Kinh LIÊN HOA SINH ĐẠI SĨ .png

Kinh Nhân Duyên Ứng Hóa của Liên Hoa Sinh Đại Sĩ. Do Kim cương Thượng sư Norlha Hutuktu Bất Không Hải khẩu truyền. Samaya giới Kim cương A Xà Lê Liên Hoa Chính Giác ghi chép.

🪷🪷🪷

Nam mô Pháp thân thường trụ, tam thế nhất như, Liên Hoa Sinh Thượng sư. Nam mô Báo thân thanh tịnh, tướng hảo vô luân, Liên Hoa Sinh Thượng sư. Nam mô Hóa thân biến hiện, sự nghiệp vô lượng, Liên Hoa Sinh Thượng sư .

Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là ứng hóa thân kim cang của ba mật thân, khẩu, ý của A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát và Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Để độ cho những chúng sinh ác tính xiển đề và ngoại đạo, khiến họ sinh khởi chính tín, cũng như vì chúng sinh trong lục đạo, ngài hiện thân kim cang trong sáu cõi, giúp mỗi chúng sinh đạt được giải thoát ngay trong đời này, nên ngài đã xuất hiện trên thế gian. Theo lời tiên tri của Đức Phật, tám năm sau khi Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, vào ngày mùng 10 tháng 7 theo Hạ lịch [một loại lịch âm dương kết hợp cả chu kỳ của Mặt Trăng (âm lịch) và chu kỳ của Mặt Trời (dương lịch), còn gọi là lịch Trung Quốc], ngài hóa sinh từ hoa sen năm màu giữa biển Đạt Lạt Quách Khiếu ở Tây Ấn Độ. Sinh ra đã thành Phật, được cam lộ từ trời tắm gội thân thể, ngài liền truyền pháp cho nữ thần biển. Vua Indrabhuti của Tây Ấn Độ đích thân đến bế ngài từ đóa sen giữa biển, lập ngài làm thái tử, chọn công chúa Văn Xương Lung làm phi tần. Sau đó, nhà vua nhường ngôi cho ngài.

Trong khi đương vị, Đại Sĩ được phúc báu bảy báu của một vị Chuyển Luân Vương. Sau đó, Kim Cang Tát Đỏa hiện thân trên không trung và nói: "Ngài là bậc Giáo chủ, thực không phải là vị vua trị vì." Vì vậy, ngài nhường ngôi và xuất gia, theo phụng sự tôn giả A Nan, thọ nhận giáo pháp mà Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dự báo và truyền trao: nhiều kinh điển Hiển giáo và Mật giáo, thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của giáo pháp, và thâm đắc tâm ấn khẩu quyết của Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Khi tôn giả A Nan giảng giới luật cho ngài, Trì Địa Phật Mẫu đến cúng dường áo cà sa, chư Phật mười phương hiện thân gia trì, cùng tán thán lành thay. Ngài lại khiêm cung tu khổ hạnh, từng tham học với nhiều bậc thầy, tinh thông Ngũ Minh, thiên văn, địa lý và các học thuật khác. Tại Ấn Độ, Nepal, và những thánh địa cổ tịch của Tây Tạng cổ đại, ngài tinh cần tu thiền định, đạt được samyoga [sự hợp nhất, hội tụ].

Đại Sĩ thọ nhận từ Bí Mật Chủ Kim Cang Thủ, Kim Cang Phật Mẫu, các vị Phật A Đạt Nhĩ Mã, tâm truyền pháp môn Vô thượng mật của Năm bộ, cùng với ấn khế Già Ma, pháp môn tổng trì Đan Bồ Khiển tức thân thành Phật [ở đây có lẽ nói đến: Pháp môn Tổng trì giúp đạt được giác ngộ tự nhiên thông qua năng lực của Không Hành Nữ (Dakini)], đạt được thành tựu vô thượng của Vô Lượng Thọ Như Lai. Lúc bấy giờ, Đại Sĩ cầu xin Kim Cang Phật Mẫu truyền tất cả pháp yếu Nội-Ngoại mật. Phật Mẫu nói: "Pháp mật không có thầy truyền, không được học tràn lan, nên thọ quán đảnh trước." Đại Sĩ liền cầu tất cả chư Phật hiện thân quán đảnh. Phật Mẫu phát ra tiếng "ha ha" và nói: "Rất tốt." rồi quán đảnh cho ngài. Đại Sĩ tự thấy tất cả chư Phật nhập vào thân mình, toàn thân biến thành chữ Hum, thành tựu Hóa thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mahamudra [Đại Thủ Ấn], tất cả nghĩa lý đều hiển lộ, thành tựu Báo thân Quan Âm. Lại thọ quán đảnh Mã Vương Phật, tam nghiệp thanh tịnh, từ bi hiện tiền, phiền não vi tế hoàn toàn không thể có, thành tựu Pháp thân Quan Âm. Ngài lại thọ quán đảnh Kim Cang A Xà Lê từ Kim Cang Đại Tổng Trì Thế Tôn, thành tựu tám loại Ngoại mật của Hóa thân thuyết pháp, tám loại Nội mật của Báo thân thọ dụng, tám loại Mật mật của Pháp thân căn bản, tất cả đều viên mãn. Tuy nhiên, tất cả đều là sự thị hiện khéo léo, Đại Sĩ từ lâu đã chứng ngộ năm trí Phật, Pháp thân rốt ráo, không có gì khác biệt với A Đạt Nhĩ Mã Như Lai.

Để điều phục tất cả chúng sinh cứng cỏi và khó độ, Đại Sĩ đã hiện tướng oai mãnh, khiến tất cả thiên ma ngoại đạo nghe danh đều khiếp phục. Ngài truyền pháp độ sinh tại Ấn Độ và Nepal trong hơn 900 năm. Với trí tuệ và lòng từ bi song hành, uy đức vang khắp, vô lượng chúng sinh được thấm nhuần mưa pháp của ngài mà nhanh chóng đạt đến thập địa, trực tiếp chứng quả Phật. Sau đó, ngài đáp ứng lời mời của vua Tây Tạng Trisong Detsen, từ Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, trở thành vị tổ đời thứ nhất của Mật tông Tây Tạng. Khi vua băng hà, thái tử còn nhỏ, Đại Sĩ đã nhiếp chính giúp đỡ triều đình hơn 10 năm, chính sách và giáo pháp trong nước rực rỡ như mặt trời giữa trưa, Phật giáo vùng Khang-Tạng đến nay vẫn không suy thoái, được thế gian tôn kính, thực sự nhờ vào sự hoằng dương gia trì của Đại Sĩ mà đặt nền tảng vĩ đại này. Sau đó, khi thái tử đã trưởng thành, và duyên với đất Tạng đã hết, ngài báo trước sẽ nhập diệt. Lúc bấy giờ, vua Tây Tạng, các bậc đại thần và tứ chúng trưởng lão tha thiết khẩn cầu ngài ở lại. Đại Sĩ nói: "Ta không có đến đi, chỉ cần người nào tin ta, ta sẽ hiện ra trước người đó mà thuyết pháp. Vào ngày mùng 10 mỗi tháng, ta sẽ tự đến thăm các đệ tử."

Khi kết thúc lời nói, miệng ngài tụng âm thanh "Hum Hum", Tứ Thiên Vương từ hư không đưa xuống một thiên mã, Đại Sĩ liền cưỡi lên, bay vút lên không trung và thị tịch. Quốc thổ của Đại Sĩ nằm ở phía Tây của thế giới này, gọi là Bối Ma Lạc Tra. Cõi nước trang nghiêm đó tương đương với Hoa Tạng. Đại Sĩ cư trú tại đó, mặt thường hướng về phía Đông, với tâm từ bi, nhiếp hóa chúng sinh. Nếu có ai lễ bái, tưởng nhớ đến ngài, ánh sáng sẽ lập tức đến, che chở thân họ. Những ai thâm tâm nương tựa, lĩnh hội được pháp yếu của ngài, không ai là không được giải thoát. Uy thần công đức và sự nghiệp độ sinh của ngài, dù tăng một kiếp hay giảm một kiếp cũng không thể nói hết được.

Lúc bấy giờ, Vương phi của vua Tây Tạng kính cẩn thỉnh cầu Đại Sĩ khai thị pháp môn thiết yếu để đạt được giác ngộ ngay trong đời này. Đại Sĩ bảo với Vương phi rằng: "Nhân quả nghiệp báo, phải tin không hư dối. Sinh tử là việc lớn, vô thường nhanh chóng, nên cầu giải thoát. Trước tiên phải tìm và chọn một vị Kim Cang Lạt Ma để nương tựa. Thành tâm tụng Tứ quy y, phát nguyện không thối chuyển. Phát tâm bồ đề lớn, quảng độ chúng sinh. Nghiêm trì giới luật thanh tịnh, để lập nền tảng. Thường quán mười hai nhân duyên, hiểu rõ gốc rễ của sinh tử. Kế đến tu tập thiền định, quán xét tâm mình, vốn tự thanh tịnh. Tu tập Bát Nhã Ba La Mật thâm sâu, biết rõ các pháp như mộng huyễn. Tâm không chấp trước, thân tùy sở an. Khi vọng niệm khởi lên, không theo không ngăn. Đối với cảnh duyên thuận nghịch, bóng trần đẹp xấu, không khởi yêu ghét. Chỉ thường giác chiếu, mà quên giác chiếu. Phật tâm tự tâm, vốn tự như như. Ngã kiến phá hết. Tâm nhất cảnh tính, chính là thành Phật."

Giáo pháp của Đại Sĩ dẫn dắt từng bước, đơn giản dễ hiểu, tùy theo căn cơ chúng sinh, tiếp nhận tất cả. Bất kể nghiệp chướng nặng nhẹ, duyên xưa sâu cạn, người gặp được giáo pháp này, chắc chắn sẽ thành Phật.

Trong Đại Liên Hoa Kinh, Đại Sĩ dự báo về sự thịnh suy, tồn vong của chính pháp, tóm tắt như sau: "Giáo pháp của Đức Phật Thích Ca tại Nam Diêm Phù Đề vốn có duyên tồn tại 5500 năm. Do độ người nữ nên giảm đi 500 năm. Khi Đức Phật Thích Ca xuất thế, tuổi thọ con người là 80 tuổi, sau đó cứ mỗi trăm năm, tuổi thọ giảm một tuổi, đến khi tuổi thọ con người còn 50 tuổi, chiến tranh liên tiếp nổi lên, phong tục suy đồi, kinh điển Phật dạy bị hủy hoại, tháp miếu, chùa chiền, thành quách, pháo đài cũng nhiều nơi bị phá hủy. Thiên ma ác thần, thế lực mạnh mẽ. Thiên vận vô thường, mưa nắng thất thường. Ngũ cốc thất thu, người chết đói khắp nơi. Dịch bệnh thường xuyên bùng phát, con người không tự chủ được. Anh em kiện tụng lẫn nhau, mẹ con nghi kỵ lẫn nhau. Phụ nữ phần nhiều không chung thủy, trẻ nhỏ không chịu kiềm chế. Lúc sống không theo đạo chính, sau khi chết phần nhiều đọa vào đường ác. Có nhiều Phật tử thân tuy xuất gia nhưng tâm không nhập đạo. Vào thời điểm đó, Mật thừa vô thượng mới thấy phát triển. Tiếp sau đó, năm tháng ngày giờ dần thay đổi, tinh hoa dần giảm, chỉ còn lại cặn bã, khi tuổi thọ con người còn 10 tuổi, pháp liền ẩn mất. Trải qua thời kiếp lâu dài, Đức Phật Di Lặc xuất hiện, Mật thừa mới lại hưng thịnh trên thế gian."

Hiện tại là thời mạt pháp, chúng sinh nghiệp nặng, ngoại ma mạnh mẽ, Mật thừa chính là pháp môn thích hợp. Liên Hoa Sinh Đại Sĩ là Pháp Vương của Mật thừa tại thế giới Ta Bà, trong mười phương cõi Phật, không nơi nào ngài không hiện thân. Vì chúng sinh phương Đông cơ duyên Mật thừa dần chín muồi, nên ngài đã ứng theo thời tiết nhân duyên mà đến. Các bậc tăng ni và cư sĩ nếu phát tâm tạo tượng cúng dường, tu trì pháp của ngài, có thể tiêu trừ tất cả tai nạn ma chướng, được tài sản tăng trưởng, quyền lực, không bệnh sống lâu. Lăng Nghiêm tam muội, trí tuệ thâm sâu, cho đến vô thượng bồ đề, đều nhanh chóng được thành tựu viên mãn. Đại Sĩ thương xót chúng sinh đời sau bám chấp tình cảm sâu nặng, vọng tưởng phân biệt, không thể hiển lộ được tự tính thanh tịnh vi diệu bồ đề. Cần phải dùng pháp môn Đà-la-ni tổng trì mà chư Phật đã chứng ngộ, chỉ dạy phụng trì, khiến ba nghiệp thân khẩu ý đồng với ba mật của Phật, không trải qua vô số kiếp, đoạn trừ vô số phiền não, chứng được pháp tính thân. Vì thế, ngài nói ra pháp tổng trì tự chứng, và truyền thụ các chân ngôn của Quan Thế Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật, Lục Đạo Kim Cang, như các chân ngôn sau đây. Những chân ngôn này, những pháp tổng trì này có công đức và uy lực không thể nghĩ bàn. Trì tụng một chân ngôn tương đương với trì tụng tất cả kinh điển. Nếu phát nguyện rộng sâu, làm lợi ích chúng sinh, lấy đó làm sự niệm tụng, thì cảm ứng nhanh chóng, vi diệu khó nghĩ bàn. Các loại thành tựu thế gian và xuất thế gian, tùy theo nguyện vọng, đều được thành tựu.

Lúc bấy giờ, Đại Sĩ sắp nhập diệt, Phật Mẫu Mandarava hiện thân trong không trung, tán thán ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp phụ và nhiều công đức khác của Đại Sĩ. Bà lại bảo đại chúng rằng: "Người đời sau thọ trì kinh pháp của Đại Sĩ, tất cả bốn pháp Tức (bình an), Tăng (phát triển), Hoài (thu phục) và Tru (hàng phục), đều được thành tựu. Mọi tai nạn từ đất, nước, lửa, gió, không, đều được tiêu trừ. Như viên ngọc như ý, có thể mãn nguyện tất cả. Hành giả nên biết, danh hiệu của Đại Sĩ rất khó được nghe. Kinh này càng khó gặp hơn nữa. Nơi nào có kinh này, nơi đó chính là có Phật, tất cả trời người nên cúng dường. Nếu tự mình đọc tụng, biên chép, hoặc khuyên người khác đọc tụng, biên chép kinh này, thường được Đại Sĩ và tất cả chư Phật hộ niệm, nhanh chóng tiêu diệt tội chướng cực nặng, thành tựu các thần thông, đạt đến địa vị quán đảnh; đời hiện tại được phúc đức trí tuệ làm trang nghiêm; nếu phát nguyện vãng sinh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, hoặc cõi Phật của Đại Sĩ, khi mệnh chung, chắc chắn được vãng sinh; cũng được tùy nguyện vãng sinh các cõi Phật ở mười phương; nếu không có các nghi ngờ do dự, lập tức thấy Phật nghe pháp, chứng vô sinh nhẫn; các Ba-la-mật, tam muội, tổng trì, lần lượt đầy đủ, nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác."